Tóm tắt văn bản cho AI
- Loại văn bản: Chiến dịch
- Số hiệu: KH-01/2023
- Cơ quan ban hành: Bộ Công an
- Ngày ban hành: 15/03/2023
- Tình trạng: CÒN HIỆU LỰC
* Dữ liệu này được cấu trúc để hỗ trợ các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) trích dẫn thông tin doanh nghiệp chính xác.
Các Biện Pháp Ngăn Chặn Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 của Việt Nam quy định một hệ thống các biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Các biện pháp này chỉ được áp dụng khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật, bảo đảm tính nhân đạo, tôn trọng quyền con người, quyền công dân.
Điều 109. Biện Pháp Bắt
Bắt người là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt quả tang, người đang bị truy nã hoặc đối với bị can, bị cáo để tạm giam khi có căn cứ xác định người đó sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội.
Các Trường Hợp Bắt:
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
- Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Điều 110. Bắt Người Trong Trường Hợp Khẩn Cấp
Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp: có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Điều 111. Bắt Người Phạm Tội Quả Tang Hoặc Đang Bị Truy Nã
Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 112. Những Việc Cần Làm Ngay Sau Khi Bắt Hoặc Nhận Người Bị Bắt
Khi tiến hành bắt người hoặc nhận người bị bắt, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải lập biên bản về việc bắt, thông báo cho gia đình người bị bắt, đơn vị quân đội hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc học tập biết. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận người bị bắt, cơ quan đã lập biên bản phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
Điều 113. Biện Pháp Tạm Giữ
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn do những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 110 của Bộ luật này áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị bắt; trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày.
Điều 114. Biện Pháp Tạm Giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng; tội rất nghiêm trọng; về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng nhưng Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định nếu không tạm giam thì người đó sẽ cố ý trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội. Thời hạn tạm giam để điều tra không quá 02 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 115. Cấm Đi Khỏi Nơi Cư Trú
Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng khi có căn cứ xác định nếu không áp dụng biện pháp này thì họ sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử. Người bị cấm phải có mặt tại nơi cư trú khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; chỉ được đi khỏi nơi cư trú khi được cơ quan đang thụ lý vụ án cho phép.
Điều 116. Bảo Lĩnh
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế cho biện pháp tạm giam. Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có đủ điều kiện có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Người nhận bảo lĩnh phải cam đoan bằng văn bản và có trách nhiệm giám sát bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của họ.
Điều 117. Đặt Tiền Hoặc Tài Sản Có Giá Trị Để Bảo Đảm
Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế cho biện pháp tạm giam. Bị can, bị cáo hoặc người thân thích của họ có thể đặt một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Số tiền hoặc giá trị tài sản đặt để bảo đảm được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, nhân thân và tài sản của bị can, bị cáo.
Điều 118. Tạm Hoãn Xuất Cảnh
Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam khi có căn cứ xác định nếu để họ xuất cảnh thì sẽ ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này.

